CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM                              

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

                                                                                                                        

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi:   Hội đồng sáng kiến huyện Đại Từ

Tôi ghi tên dưới đây:

STT

Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỉ lệ đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

1

Nguyễn Thị Kim Dung

09/9/1971

THCS Nguyễn Tất Thành

Giáo viên

ĐH Ngữ văn

100%

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận xã hội”.

1. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Kim Dung - giáo viên trường THCS Nguyễn Tất Thành - Đại Từ - Thái Nguyên.

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ Văn lớp 9

Như chúng ta đều biết, xã hội luôn có sự vận động và thay đổi, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là của công nghệ thông tin. Chính vì thế mà xã hội cũng phát sinh nhiều vấn đề (cả tích cực và tiêu cực), cả những thông tin chính thống và không chính thống hàng ngày được đăng tải trên mạng Internet. Điều đó đã khiến cho học sinh cảm thấy lúng túng, các em không biết làm thế nào để nhìn nhận các vấn đề xã hội một cách đúng nhất và bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề đó.

Xuất phát từ yêu cầu trên, bản thân tôi là một giáo viên dạy Ngữ văn cấp THCS đã nhiều năm nên cũng tích lũy được một số kinh nghiệm cùng với việc trao đổi với các đồng nghiệp của mình chúng tôi thấy muốn giúp cho học sinh giải quyết được khó khăn đó thì cần phải hướng dẫn các em học tốt phần văn nghị luận và đặc biệt là nghị luận xã hội. Bởi văn nghị luận xã hội sẽ giúp các em không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề khác nhau của đời sống xã hội.

  Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của văn nghị luận xã hội đối với học sinh lớp 9 trong giai đoạn hiện nay nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận xã hội”.

3. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Sáng kiến được áp dụng lần đầu từ năm học 2016 - 2017, bắt đầu từ tháng 9 năm 2016 tại trường THCS Hoàng Nông - Đại Từ - Thái Nguyên.

4. Mô tả bản chất của sáng kiến

4.1. Nội dung của sáng kiến

Sáng kiến Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận xã hội tập trung tìm hiểu thực trạng của việc học, viết bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. Từ đó, hướng dẫn, đưa ra các phương pháp để giúp học sinh làm bài văn.

4.1.1. Thực trạng của việc học văn nghị luận xã hội hiện nay ở môn Ngữ văn cấp THCS nói chung và môn Ngữ văn lớp 9 nói riêng

4.1.1.1. Chương trình

- Ở chương trình Ngữ văn lớp 7, học sinh được tìm hiểu về các văn bản nghị luận xã hội, đặc biệt các em được học về kiểu bài nghị luận với hai phương thức nghị luận cơ bản: lập luận chứng minh, lập luận giải thích.

- Tiếp đó lớp 9, các em được tìm hiểu các văn bản nghị luận xã hội, được học về dạng bài văn Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và Nghị nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

4.1.1.2. Học sinh

- Văn nghị luận xã hội là kiểu bài tương đối khó, trìu tượng và thường khô khan nên ít tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập.

4.1.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

* Đối với giáo viên

- Bản thân giáo viên đôi khi cũng chưa nắm chắc về kiểu bài và đặc biệt là phương pháp để làm tốt một bài văn nghị luận xã hội.

- Khi thấy học sinh không hứng thú học tập thì cũng dạy qua loa đại khái cho xong chứ không hướng dẫn học sinh một cách chi tiết, cụ thể.

* Đối với học sinh

- Kiểu bài nghị luận xã hội là kiểu bài khó đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy, sáng tạo, linh hoạt giải quyết những tình huống đưa ra trong đề bài nên học sinh thường nản hoặc không hứng thú khi học và làm bài.

4.1.3. Một số biện pháp thực hiện để khắc phục những hạn chế trên

Học sinh thuần thục và linh hoạt khi triển khai luận điểm, luận cứ, cách tiếp cận, xử lí thông tin - dẫn chứng, cách lập luận,… để vận dụng vào bài viết. Ngôn ngữ làm văn của học sinh cũng trong sáng, nhuần nhuyễn hơn. Đặc biệt, học sinh hứng thú học tập và yêu thích môn Ngữ văn nói chung và viết văn nghị luận xã hội nói riêng.

4.1.3.1. Cần nắm chắc khái niệm về văn nghị luận xã hội (gồm hai kiểu bài).

* Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ.           

                                         (Ngữ văn 9, tập 2 - trang 21)

* Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống,... của con người.

                                         (Ngữ văn 9, tập 2 - trang 36)

    4.1.3.2. Các thao tác thường áp dụng khi viết bài

- Các dạng bài nghị luận xã hội đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.

* Thứ nhất về thao tác giải thích:

- Mục đích: Nhằm để hiểu.

* Thứ hai về thao tác chứng minh

- Mục đích: Tạo sự tin tưởng.

* Thứ ba về thao tác bình luận

- Mục đích: Tạo sự đồng tình.

4.1.3.3. Các dạng đề văn nghị luận xã hội

* Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Vấn đề được yêu cầu nghị luận là những hiện tượng thường xảy ra, thường gặp trong đời sống. Sự việc, hiện tượng được đưa ra để bàn bạc khá gần gũi với đời sống và vừa trình độ nhận biết xã hội của học sinh như:

- Văn hóa giao thông, tai nạn giao thông.

  • Bạo lực học đường.

- Ô nhiễm môi trường.

- Những tiêu cực trong thi cử.

- Học tủ, học vẹt.

- Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn…

 

* Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

Vấn đề được yêu cầu nghị luận là những vấn đề về tư tưởng, đạo lí vô cùng phong phú. Các vấn đề thường gặp là:

- Nhận thức:

- Tính cách, phẩm chất:

- Quan hệ gia đình:

- Quan hệ xã hội:

  4.1.3.4. Cách lập dàn ý cho đề văn nghị luận xã hội

  * Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

a. Mở bài:

- Nêu được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.

b. Thân bài:

- Thực trạng của vấn đề cần nghị luận. Biểu hiện thực tế của vấn đề như thế nào? Trả lời câu hỏi ra sao? thế nào?

- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan). Trả lời câu hỏi vì sao?

- Hậu quả hoặc kết quả, lợi ích, tác dụng.

- Đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. Trả lời câu hỏi làm thế nào?

- Liên hệ thực tế, bài học nhận thức, hành động của bản thân.

c. Kết bài:

- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận.

- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người (tránh hô hào chung chung, sáo rỗng, lối mòn).

* Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

a. Mở bài:

- Nêu được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.

b. Thân bài:

-  Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận là gì ?

-  Bình luận (nêu quan điểm của mình về vấn đề nghị luận).

+ Bình: Khẳng định vấn đề vừa xác định ở phần giải thích là đúng hay sai hoặc có ý đúng, đồng thời cũng có ý sai theo quan điểm của mình; nêu những biểu hiện về vấn đề trong thực tế để chứng minh.

Luận: Bàn bạc và bày tỏ ý kiến của người viết đối với vấn đề (phê phán cái xấu, tiêu cực và bênh vực, ca ngợi cái tốt, tích cực).

- Liên hệ thực tế

c. Kết bài:

- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận.

- Đưa ra một thông điệp hay lời khuyên cho mọi người.

4.1.3.5. Cách làm bài nghị luận xã hội

* Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

- Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ sự việc, hiện tượng đời sống (qua việc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của sự việc, hiện tượng).        Từ đó thể hiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước sự việc, hiện tượng đời sống.

- Cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh làm bài máy móc hoặc chung chung.

a. Mở bài: Yêu cầu nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.

b. Thân bài:

Bước 1: Thực trạng của vấn đề cần nghị luận

- Giải thích làm rõ để đưa ra vấn đề bàn luận.

- Nhờ đâu em biết những biểu hiện này ?

- Hiện tượng diễn ra trên quy mô nào (quy mô rộng hay hẹp).

- Mức độ diễn ra ?

- Đối tượng tham gia thực hiện các hành vi này ?

- Hãy kể hoặc miêu tả một vài thực tế về hành vi của con người như đề bài đã nêu mà em được chứng kiến hoặc được biết?

Bước 2: Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

- Những nguyên nhân khách quan ?

- Những nguyên nhân chủ quan ?

Bước 3: Hậu quả hoặc kết quả, lợi ích, tác dụng

- Hiện tượng làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội ?

- Hiện tượng làm ảnh hưởng đến con người như thế nào

Bước 4: Đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả

- Biện pháp chung:

- Biện pháp cá nhân

- Đề nghị:

c. Kết bài:

- Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận

- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người.

* Nghị luận về một  vấn đề tư tưởng, đạo lí

a. Mở bài:  Yêu cầu: Nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần nghị luận.

b. Thân bài:

Bước 1: Giải thích để chỉ ra vấn đề cần nghị luận

- Những từ ngữ nào quan trọng trong đề, chúng có ý nghĩa gì?

Bước 2:  Bình (Nêu quan điểm của mình về vấn đề)

Bước 3: Luận: Là bàn bạc và nêu rõ ý kiến của người viết đối với vấn đề (phê phán cái xấu, tiêu cực và bênh vực, ca ngợi cái tốt, tích cực)

Bước 4: Liên hệ thực tế, bài học nhận thức và hành động (Làm gì để đạt mục tiêu như bình luận)

- Biện pháp chung:

- Biện pháp cá nhân:

c. Kết bài:

- Tóm lược nội dung đã trình bày.

- Đưa ra một thông điệp, hay lời khuyên cho mọi người.

 4.1.3.6. Một số đề tham khảo

* Đề nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

a. Dạng bài bàn về một sự việc, hiện tượng đời sống có tính chất tích cực.

Đề bài: Đồng cảm và sẻ chia là một nếp sống đẹp trong xã hội hiện nay. Hãy viết một bài văn ngắn trình bày ý kiến của  em về nếp sống ấy.

b. Dạng bài bàn về một sự việc, hiện tượng đời sống có tính chất tiêu cực.

 Đề bài:

Hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày ý kiến của em về nạn bạo hành trong xã hội hiện nay.

* Đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

a. Đề bài dưới dạng một câu chuyện

Đề bài: Trình bày suy nghĩ của em về thông điệp từ câu chuyện sau:

Một cậu bé nhìn thấy cái kén của con bướm. Một hôm cái kén nở ra một cái khe nhỏ, cậu bé ngồi và lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ khi nó gắng sức để chui qua khe hở ấy. Nhưng có vẻ nó không đạt được gì cả.
        Do đó, cậu bé quyết định giúp con bướm bằng cách cắt khe hở cho to hẳn ra. Con bướm chui ra được ngay nhưng cơ thể nó bị phồng rộp và bé xíu, cánh của nó co lại. Cậu bé tiếp tục quan sát con bướm, hi vọng rồi cái cánh sẽ đủ lớn để đỡ được cơ thể nó. Nhưng chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
        Thực tế, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng. Nó không bao giờ bay được.
       Cậu bé không hiểu được rằng chính cái kén bó buộc làm cho con bướm phải cố gắng thoát ra là điều kiện tự nhiên để chất lưu trong cơ thể nó chuyển vào cánh, để nó có thể bay được khi nó thoát ra ngoài kén.

                                  (Hạt giống tâm hồn, First New, NXB TP HCM, Tr 123)

b. Đề bài dưới dạng một ý kiến

Đề bài: Nhà thơ R. Ta - go cho rằng: “Nếu bạn đóng cửa với mọi sai lầm, chân lí cũng sẽ bị bạn cho đứng ngoài cửa”.

Suy nghĩ của em về ý kiến trên.

 Một số lưu ý khi sử dụng dẫn chứng cho bài viết:

Bài nghị luận xã hội không thể thiếu dẫn chứng. Nguồn dẫn chứng ở đâu, chúng ta đã biết. Khi sử dụng dẫn chứng, cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Không nên quá tham lam đưa thật nhiều dẫn chứng.

- Không nên đưa quá ít dẫn chứng làm cho lí lẽ của chúng ta trở nên khô khan, thiếu thực tế, thiếu sức thuyết phục.

+ Về kĩ năng

- Diễn đạt, ngôn ngữ

Cần trang trọng, linh hoạt và giàu cảm xúc; ngôn ngữ phải chính xác, có sức thuyết phục.

-  Bố cục

Bố cục phải theo một cấu trúc chặt chẽ, phù hợp với dạng bài và nhận định đưa ra bàn luận. Phần thân bài phải tách thành nhiều đoạn và trình bày nội dung đoạn theo kiểu đoạn văn phù hợp: đoạn diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp…

- Nhận định

Nhận định phải được trích đúng nguyên văn như đã nêu trong đề bài

4.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến

- Với sáng kiến này, tôi đã áp dụng khi giảng dạy phần Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thuộc phân môn Tập làm văn lớp 9 của trường THCS Hoàng Nông và THCS Nguyễn Tất Thành. Theo tôi, sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi khi dạy phân môn Tập làm văn lớp 9 trên phạm vi toàn huyện Đại Từ và khi làm công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh đối với môn Ngữ văn 9.

4.3. Tính mới của sáng kiến

- Khi học sinh được hướng dẫn cụ thể về cách làm bài văn nghị luận xã hội thì những khó khăn như đã nêu ở phần Lĩnh vực áp dụng sáng kiến đã dần được giải quyết và đương nhiên chất lượng của phân môn Tập làm văn cũng được nâng lên đáng kể. Cụ thể, khi làm bài Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí  thì học sinh không còn cảm thấy lúng túng và không biết bày tỏ quan điểm của mình như thế nào nữa. Ngược lại, các em đã hình dung rõ được vấn đề. Đồng thời các em cũng biết phân tích, đánh giá tính chất tốt - xấu, lợi - hại, hay - dở của sự việc, hiện tượng; ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí đã bàn luận.

4.4. Tính khoa học của sáng kiến

- Khi vận dụng sáng kiến này, tôi nhận thấy thật sự khoa học và  thu được kết quả khả quan. Nếu như những giờ học phân môn Tập làm văn trước đây học sinh thường thờ ơ, lãnh đạm thậm chí còn tỏ rõ sự chán nản thì giờ đây những giờ học đó lại khiến các em hứng thú, đôi khi còn tranh luận sôi nổi. Các em biết chọn lọc thông tin của đời sống để đưa vào bài viết tốt hơn.

4.5. Tính thực tiến của sáng kiến

- Sáng kiến được thực hiện ở các tiết dạy chính khóa theo phân phối chương trình Ngữ văn 9, bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, ôn đại trà của học sinh lớp 9, ôn thi vào lớp 10 THPT.

5.  Những thông tin cần được bảo mật: Không có

6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

6.1. Với giáo viên

- Phải nắm chắc dạng bài, phương pháp làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.

- Thực hiện, tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy trên lớp và hướng dẫn học sinh phân biệt được sự khác nhau của hai kiểu bài Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.

1.1.2. Với học sinh

- Nắm chắc dạng bài, cách làm bài.

- Tích cực tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường để có thể làm bài tốt hơn.

7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả

7.1. Theo ý kiến tác giả

* Trước khi áp dụng sáng kiến:

- Kết quả khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến (ngày 15 tháng 6 năm 2016):

Khối

Tổng số

Số học sinh không biết cách làm bài

(Điểm từ 1->4)

Số học sinh biết cách làm bài ở mức trung bình (Điểm từ 5->7)

Số học sinh làm bài tốt

(Điểm từ 8->9)

 

9

 

60

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

27

45

23

38,3

10

16,7

* Sau khi triển khai sáng kiến:

Sau thời gian nghiên cứu và đưa vào áp dụng thực tiễn thực hiện Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận xã hội tôi tiếp tục thực hiện khảo sát  đối với 60 học sinh khối 9.

Kết quả khảo sát sau áp dụng sáng kiến (ngày 20 tháng 4 năm 2017):

Khối

Tổng số

Số học sinh không biết cách làm bài

(Điểm từ 1->4)

Số học sinh biết cách làm bài ở mức trung bình (Điểm từ 5->7)

Số học sinh làm bài tốt

(Điểm từ 8->9)

 

9

 

60

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

8

13,3

24

40

28

46,7

Không chỉ được thể hiện rõ hiệu quả khi áp dụng sáng kiến vào dạy học hàng ngày với kết quả khảo sát như trên mà trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, ôn đại trà cho học sinh thi vào lớp 10 THPT những năm gần đây cũng đạt kết quả khả quan.

 Kết quả thi học sinh giỏi lớp 9 qua các năm:

Năm học

  Số HS tham gia thi

Đạt giải huyện

Đạt giải tỉnh

     2017 - 2018

        3

   2

  0

     2018 - 2019

        3

   3

  2

2019 - 2020

        4

   3

          1

Kết quả thi vào lớp 10 THPT qua các năm:

Năm học

Số HS tham gia thi

Điểm trung bình

2017 - 2018

          60

            5,63

2018 - 2019

          56

            6,05

Kết quả trên cũng đã chứng minh được, sáng kiến của tôi đã đi đúng hướng chỉ đạo của nhà trường, của Phòng Giáo dục và Đào tạo Đại Từ theo đúng tinh thần đổi mới mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.

7.2. Theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có)

Không chỉ cá nhân tôi áp dụng “Hướng dẫn học sinh lớp 9 làm tốt bài văn nghị luận xã hội” mà tôi đã chia sẻ để các đồng nghiệp cùng dạy môn Ngữ văn của trường THCS Nguyễn Tất Thành cũng đã áp dụng  kinh nghiệm này

8. Danh sách những người đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có):

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và

hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

 

 

Thị trấn Hùng Sơn, ngày 06 tháng 6 năm 2020

Người nộp đơn

 

 

 

                        Nguyễn Thị Kim Dung